1. Khái quát chung về Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản:
1.1. Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là gì?
“Công nhiên” là hành vi công khai thực hiện một hành động nào đó trước mặt người khác mà không hề che giấu hay lén lút.
Vì thế có thể đưa ra khái niệm:
“Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi của một người công khai, ngang nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác trước sự chứng kiến của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản và những người xung quanh mà không sử dụng thủ đoạn che giấu, lén lút hay dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc.”
Điểm đặc trưng của Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là tính công khai, trắng trợn:
- Người phạm tội không cần che đậy hành vi, không cần sự đồng ý của chủ tài sản cũng không cần lừa dối mà chiếm đoạt ngay trong tầm kiểm soát của nạn nhân;
- Đây là điểm khác biệt của Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản khác biệt với trộm cắp (thủ đoạn lén lút), lừa đảo (dùng thủ đoạn gian dối) hay cướp tài sản (dùng bạo lực, đe dọa bạo lực).
1.2. Ý nghĩa của chế định Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự:
- Thứ nhất, bảo vệ quyền sở hữu tài sản của công dân. Quyền sở hữu là một trong những quyền cơ bản được Hiến pháp và Bộ luật Dân sự bảo vệ. Việc quy định tội công nhiên chiếm đoạt tài sản tạo cơ sở pháp lý để xử lý những hành vi chiếm đoạt trắng trợn, coi thường pháp luật, qua đó củng cố sự an toàn pháp lý cho tài sản của cá nhân và tổ chức.
- Thứ hai, ngăn chặn và răn đe hành vi coi thường kỷ cương pháp luật. Người phạm tội công nhiên chiếm đoạt thường có tâm lý coi thường chủ sở hữu và dư luận xã hội vì họ hành động công khai. Xử lý nghiêm minh loại tội này góp phần răn đe, ngăn chặn tình trạng “cướp trắng” tài sản, tránh để người dân bất an trong quá trình sinh sống và làm việc.
- Thứ ba, góp phần giữ gìn trật tự và an toàn xã hội. Hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản có thể gây ra sự hoang mang và bất bình trong cộng đồng, làm giảm niềm tin của người dân vào hiệu quả quản lý của Nhà nước nếu không được xử lý kịp thời. Vì vậy, quy định tội danh này giúp duy trì trật tự xã hội, bảo đảm môi trường sống ổn định và an toàn.
- Thứ tư, phân hóa trách nhiệm hình sự giữa các tội chiếm đoạt. Trong hệ thống tội xâm phạm sở hữu, mỗi hành vi có phương thức khác nhau (lén lút, gian dối, bạo lực và công khai). Việc quy định riêng tội công nhiên chiếm đoạt tài sản thể hiện nguyên tắc cá thể hóa và phân hóa trách nhiệm hình sự, từ đó giúp các cơ quan tiến hành tố tụng xác định đúng hành vi, xử lý công bằng và phù hợp với tính chất nguy hiểm của từng loại tội phạm.
1.3. Cơ sở pháp lý của Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản:
Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản hiện nay được quy định tại Điều 172 Bộ luật Hình sự 2015 như sau:
“1. Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 173, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
b) Hành hung để tẩu thoát;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Chiếm đoạt tài sản là hàng cứu trợ;
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.”
Như vậy, Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản theo Điều 172 Bộ luật Hình sự 2015 được thể hiện dưới nhiều hành vi khác nhau. Thông thường người thực hiện hành vi phạm tội thực hiện hành vi khi bắt được người bị hại không dám hoặc không thể làm được gì nếu bị phát hiện.
2. Cấu thành tội phạm của Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản:
Các yếu tố cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản gồm: Mặt khách quan, khách thể, mặt chủ quan và chủ thể.
2.1. Khách thể:
Theo Điều 158 Bộ luật Dân sự 2015: Quyền sở hữu tài sản là quyền của một cá nhân hoặc tổ chức đối với tài sản của mình, bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản đó.
Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Tội phạm này không xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe người khác. Đây là điểm khác biệt trong khách thể giữa tội công nhiên chiếm đoạt tài sản và những tội danh khác như Tội cướp tài sản, Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản hoặc Tội cướp giật tài sản.
2.2. Mặt khách quan:
Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được thực hiện thông qua hành vi:
- Chiếm đoạt tài sản của người khác một cách công khai, không cần phải che giấu hành vi phạm tội trước mặt người đó (không có dấu hiệu lén lút, sợ hãi;
- Thực hiện hành vi khi lợi dụng sự sơ hở, chủ quan của người khác trong quá trình quản lý tài sản hoặc lợi dụng vào hoàn cảnh khách quan khác như: thiên tai, hoả hoạn, chiến tranh…;
- Nạn nhân không thể có đủ khả năng để bảo vệ tài sản của mình, chỉ có thể đứng nhìn người phạm tội lấy tài sản đi một cách công khai mà không thể phản kháng.
Bản chất của hành vi này là hành động công khai chiếm đoạt tài sản, đây là dấu hiệu chủ yếu để phân biệt Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản và trộm cắp tài sản/cướp tài sản. Việc công nhiên có thể thực hiện đối với chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản đó.
Hậu quả của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là gây thiệt hại về tài sản cho cá nhân/tổ chức hoặc người quản lý tài sản hợp pháp.
2.3. Chủ thể:
Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự:
- Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.
Theo đó, chủ thể của Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản Điều 172 Bộ luật Hình sự 2015 là:
- Người từ đủ 16 tuổi trở lên;
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có khả năng và có nhận thức.
2.4. Mặt chủ quan:
Người phạm tội thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp.
Mục đích là nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác một cách công khai, không lén lút.
3. Khung hình phạt của Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản:
Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản theo Điều 172 Bộ luật Hình sự 2015 có những khung hình phạt như sau:
- Khung 1: Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
- Khung 2: Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
- Khung 3: Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
- Khung 4: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm
- Hình phạt bổ sung: Có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
4. Tình tiết định khung hình phạt tăng nặng của Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản:
Các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng của Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 172 Bộ luật Hình sự 2015 như sau:
4.1. Các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng theo khoản 2 Điều 172 Bộ luật Hình sự 2015:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng:
Khi giá trị tài sản bị chiếm đoạt lớn (từ 50 triệu đồng trở lên), hành vi phạm tội đã gây ra hậu quả kinh tế nghiêm trọng cho chủ sở hữu. Pháp luật coi đây là tình tiết tăng nặng để bảo đảm tính công bằng, tương xứng giữa mức độ thiệt hại tài sản và hình phạt. Việc chiếm đoạt tài sản có giá trị cao thường gây bức xúc xã hội và ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, do đó cần áp dụng khung hình phạt tăng từ 02 năm đến 07 năm tù.
- Hành hung để tẩu thoát:
Theo Mục 6 phần I Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP: Là trường hợp mà người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng bị phát hiện và bị bắt giữ hoặc bị bao vây bắt giữ thì đã có những hành vi chống trả lại người bắt giữ hoặc người bao vây bắt giữ như đánh, chém, bắn, xô ngã… nhằm tẩu thoát.
Khi giá trị tài sản bị chiếm đoạt lớn (từ 50 triệu đồng trở lên) thì hành vi phạm tội đã gây ra hậu quả kinh tế nghiêm trọng cho chủ sở hữu. Pháp luật coi đây là tình tiết tăng nặng để bảo đảm tính công bằng, tương xứng giữa mức độ thiệt hại tài sản và hình phạt. Việc chiếm đoạt tài sản có giá trị cao thường gây bức xúc xã hội và ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, do đó khung hình phạt tăng nặng từ 02 năm đến 07 năm tù.
Tái phạm nguy hiểm là tình tiết thể hiện nhân thân xấu và sự coi thường pháp luật của người phạm tội. Người đã từng bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội công nhiên chiếm đoạt thì bị coi là tái phạm nguy hiểm. Hành vi này không chỉ xâm phạm tài sản mà còn thể hiện ý thức chống đối pháp luật và tiềm ẩn nguy cơ tái diễn nhiều lần, do đó bị xử lý nghiêm khắc với mức phạt từ 02 năm đến 07 năm tù.
- Chiếm đoạt tài sản là hàng cứu trợ:
Hành vi chiếm đoạt hàng cứu trợ bị coi là đặc biệt nghiêm trọng vì hàng cứu trợ là nguồn tài sản có ý nghĩa nhân đạo, được dành cho những người đang gặp khó khăn, hoạn nạn do thiên tai, dịch bệnh hoặc các sự cố khác. Việc công nhiên chiếm đoạt hàng cứu trợ thể hiện sự vô nhân đạo, trái với đạo lý xã hội, xâm phạm trực tiếp đến lợi ích của những người yếu thế. Do đó pháp luật coi đây là tình tiết tăng nặng với mức hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù.
4.2. Các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng theo khoản 3 Điều 172 Bộ luật Hình sự 2015:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng:
Trường hợp tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 200 triệu đến dưới 500 triệu đồng, mức độ thiệt hại về kinh tế là rất lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của cá nhân và tổ chức bị hại. Xã hội cũng đánh giá hành vi này là đặc biệt nguy hiểm, vì vậy Bộ luật Hình sự năm 2015 đã nâng khung hình phạt lên từ 07 năm đến 15 năm tù. Đây là sự phân hóa hình phạt theo mức độ giá trị tài sản bị chiếm đoạt, từ đó bảo đảm tính răn đe và công bằng trong xử lý hình sự.
- Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh:
Trong bối cảnh xã hội bị thiên tai, dịch bệnh, người dân đang gặp khó khăn thì việc quản lý và bảo vệ tài sản thường bị hạn chế. Lợi dụng hoàn cảnh đó để công nhiên chiếm đoạt tài sản được xem là hành vi có tính chất lợi dụng tình thế đặc biệt, từ đó gây nguy hiểm cao hơn so với trường hợp phạm tội thông thường khác. Đây không chỉ là xâm phạm sở hữu thông thường mà còn đi ngược lại chuẩn mực đạo đức, làm suy giảm niềm tin xã hội trong bối cảnh toàn dân đang gồng mình khắc phục khó khăn. Vì vậy pháp luật quy định mức phạt nặng hơn, từ 07 năm đến 15 năm tù.
4.3. Các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng theo khoản 4 Điều 172 Bộ luật Hình sự 2015:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên:
Hành vi chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên được coi là đặc biệt nghiêm trọng vì gây hậu quả kinh tế rất lớn, không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân và tổ chức mà còn gây mất an ninh trật tự trên phạm vi rộng. Pháp luật quy định khung hình phạt cao nhất trong trường hợp này, cụ thể là từ 12 năm đến 20 năm tù để tương xứng với tính chất nguy hiểm và hậu quả của hành vi vi phạm.
- Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp:
Khi đất nước xảy ra chiến tranh hoặc có tình trạng khẩn cấp được Nhà nước công bố, việc quản lý xã hội gặp nhiều khó khăn, người dân trong hoàn cảnh dễ bị tổn thương. Lợi dụng tình thế đặc biệt này để công nhiên chiếm đoạt tài sản là hành vi cực kỳ nguy hiểm, không chỉ gây hại cho cá nhân bị hại mà còn ảnh hưởng đến trật tự an ninh quốc gia. Vì vậy, pháp luật quy định khung hình phạt nghiêm khắc nhất cho tình tiết này, cụ thể là từ 12 năm đến 20 năm tù.
5. Phân biệt Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản và Tội cướp giật tài sản:
Hai tội danh này rất dễ khiến người đọc nhầm lẫn vì hành vi và tính chất, dưới đây là những điểm giống và khác nhau:
5.1. Điểm giống nhau:
Nhìn chung cả hai tội danh này nhằm đến là lấy tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Cụ thể:
- Khách thể của tội phạm: Đều xâm phạm những tài sản không thuộc quyền quản lý của mình, những tài sản này được quản lý hoặc được sử dụng.
- Hành vi khách quan: Đều có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách công khai, không hề lén lút. Người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ngay trước mắt chủ sở hữu hoặc người đang trực tiếp quản lý tài sản trong hoàn cảnh họ đang không thể quản lý tốt tài sản của mình, người phạm tội không có ý định che giấu hành vi phạm tội của mình.
- Hậu quả: Đều gây thiệt hại về tài sản của người khác, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.
- Chủ quan và chủ thể: Người phạm tội thực hiện hành vi với hành vi cố ý thực hiện một cách công khai và mong muốn hậu quả xảy ra. Chủ thể thực hiện hành vi chính là những đối tượng có đủ năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có khả năng là chủ hành vi và chịu trách nhiệm hình sự.
5.2. Điểm khác nhau:
Tiêu chí |
Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172 Bộ luật Hình sự 2015) |
Tội cướp giật tài sản (Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015) |
Về hành vi |
Người phạm tội lợi dụng việc chủ sở hữu, người quản lý tài sản không thể bảo quản tốt tài sản của mình trong hoàn cảnh bất khả thi như ngập lụt, bão, bị tật nguyền, không thể duy chuyển được… Người phạm tội không cần và không có ý định có bất cứ thủ đoạn nào khác để đối phó với chủ tài sản, người phạm tội như có hành vi sử dụng phương tiện, công cụ để đe dọa, cưỡng ép hay đe dọa bằng tinh thần để chiếm đoạt tài sản nhanh chóng và tẩu thoát. Không dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực hay uy hiếp tinh thần nhanh chóng hay nhanh chóng chiếm đoạt và lẩn tránh. |
Là hành vi thực hiện chiếm đoạt tài sản người khác nhanh chóng, diễn ra một cách bất ngờ khiến cho người đang nắm giữ tài sản không thể phản ứng kịp thời, để có thể phản kháng lại hành vi cướp giật tài sản. Hoàn cảnh để đối tượng thực hiện hành vi là lợi dụng sự sơ hở, chủ quan của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản để nhanh chóng thực hiện hành vi. Vì vậy, hậu quả xảy ra thường gây ảnh hưởng trực tiếp đên tài sản |
Chủ thể |
Chủ thể của Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên. Chỉ có người từ 16 tuổi trở lên mới phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình trong Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không thể trở thành chủ thể của Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (kể cả trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng). |
Khoản 2 Điều 16 Bộ luật Hình sự 2015: Chủ thể của Tội cướp giật tài sản có thể là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi nếu người phạm tội thuộc khoản 2, 3, 4 Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015 (trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng). |
Hình phạt |
Khung 1: Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Khung 2: Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Khung 3: Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Khung 4: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. |
Khung 1: Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Khung 2: Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm. Khung 3: Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Khung 4: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. |
6. Bản án điển hình về Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản:
Bản án số 102/2020/HSST ngày 23/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 09/10/2020, Th ngồi tại cổng nhà Th thì gặp bà Trần Thị R (sinh năm 1924) ở cùng thôn với Th đi bộ ngang qua. Do cần tiền uống rượu, Th nảy sinh ý định lấy tiền của bà R nên đứng dậy đi bộ theo sau về phía bà R. Tới nơi, Th đi áp sát bên trái người bà R, dùng hai tay ôm vòng qua trước bụng bà R, dùng tay phải sờ nhẹ nhàng tìm tiền trên người bà thì phát hiện thấy tại cạp quần bên phải của bà có 01 chiếc túi rút.
Th lấy luôn ra thấy chiếc túi rút vải hoa màu nâu, kích thước khoảng (5 x 8)cm, Th mở ra, thấy bên trong túi có 600.000 đồng, gồm 6 tờ tiền loại mệnh giá 100.000 đồng. Tay phải Th cầm chiếc túi rút, tay trái rút toàn bộ tiền trong túi ra cầm ở tay trái, đồng thời tay phải nhét trả luôn chiếc túi rút vào túi áo bà R. Bà R phát hiện Th lấy chiếc túi rút từ cạp quần của bà để lấy tiền, bà nhìn rõ Th cầm tiền trên tay trái và nhét trả chiếc túi rút vào túi áo bên trái của bà.
Bà R sờ nắn luôn chiếc túi rút không thấy còn tờ tiền nào, bà liền dùng tay đập vào vai Th và nói: “Th ơi, sao lấy sáu trăm nghìn đồng của tao, trả tao Th ơi”. Th không nói gì, tiếp tục đi bộ lững thững về phía nhà bà Nhâm Thị D, sinh năm 1934 ở cùng thôn là mẹ đẻ của Th. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 172 Bộ luật hình sự.
- Quyết định của Tòa án:
+ Bị cáo Phạm Văn Th phạm tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”.
+ Xử phạt bị cáo Phạm Văn Th 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/10/2020.
+ Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
THAM KHẢO THÊM: