1 Khái quát chung về Tội cướp tài sản:
1.1. Tội cướp tài sản là gì?
Tội cướp tài sản được hiểu là hành vi của một người dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu của người khác.
Khác với các tội xâm phạm sở hữu khác (như trộm cắp hay lừa đảo…), đặc trưng của Tội cướp tài sản nằm ở việc người phạm tội trực tiếp sử dụng bạo lực hoặc đe dọa bạo lực ngay tức thì để đạt mục đích chiếm đoạt. Hành vi này không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản mà còn xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe và sự an toàn thân thể của con người. Vì vậy, tội cướp tài sản luôn được xem là một trong những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng trong nhóm tội xâm phạm quyền sở hữu.
1.2. Ý nghĩa của việc quy định Tội cướp tài sản:
- Thứ nhất, bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của công dân và tổ chức. Quyền sở hữu tài sản là một trong những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp và Bộ luật Dân sự quy định cụ thể. Việc quy định Tội cướp tài sản trong Bộ luật Hình sự 2015 là cơ sở pháp lý để bảo vệ tài sản của cá nhân và tổ chức khỏi sự chiếm đoạt bằng bạo lực. Điều này góp phần khẳng định tính bất khả xâm phạm của quyền sở hữu và củng cố niềm tin của nhân dân vào sự công bằng, nghiêm minh của pháp luật.
- Thứ hai, bảo vệ tính mạng, sức khỏe và sự an toàn của con người. Đặc trưng của tội cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa vũ lực ngay tức khắc. Do đó, quy định tội danh này không chỉ bảo vệ lợi ích về tài sản mà còn nhằm bảo vệ quyền được sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể và sức khỏe của con người – những giá trị pháp lý và đạo đức cao nhất trong xã hội.
- Thứ ba, đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa và trừng trị tội phạm. Hành vi cướp tài sản thường gây ra hậu quả nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng cho xã hội như làm tổn hại tính mạng, sức khỏe, tinh thần nạn nhân, gây mất trật tự trị an… Việc quy định Tội cướp tài sản với các khung hình phạt nghiêm khắc có tác dụng răn đe, ngăn ngừa tội phạm, đồng thời trừng trị thích đáng những người cố tình coi thường pháp luật, coi thường tài sản và tính mạng của người khác.
1.3. Cơ sở pháp lý của Tội cướp tài sản:
Tội cướp tài sản hiện nay được quy định tại Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015 như sau:
“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;
d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
e) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
g) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
h) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;
c) Làm chết người;
d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
2. Cấu thành tội phạm của Tội cướp tài sản:
2.1. Khách thể:
Khách thể của Tội cướp tài sản bao gồm cả quan hệ về tài sản và quan hệ nhân thân. Hay nói cách khác, tội cướp tài sản là tội phạm cùng một lúc xâm phạm 02 khách thể. Thông qua việc xâm phạm đến nhân thân mà người phạm tội xâm phạm đến quan hệ tài sản (dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản), nếu không xâm phạm đến quan hệ nhân thân thì người phạm tội cướp tài sản không thể xâm phạm đến quan hệ tài sản. Hai yếu tố này có quan hệ mật thiết với nhau.
Do tội cướp tài sản cùng một lúc xâm phạm đến hai khách thể (quyền sở hữu tài sản của nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân và quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe của con người), nên trong cùng một vụ án có thể có thể có một người bị hại hoặc nhiều người bị hại. Có người bị hại chỉ bị xâm phạm đến tài sản nhưng cũng có người bị hại bị xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự; hoặc có người bị hại bị xâm phạm đến cả tài sản và cả tính mạng.
Đối tượng tác động của tội cướp tài sản là tài sản. Theo Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015 thì tài sản bao gồm:
- Vật;
- Tiền;
- Giấy tờ có giá;
- Và quyền tài sản.
2.2. Mặt khách quan:
Tội cướp tài sản được thể hiện thông qua những hành vi sau:
- Dùng vũ lực;
- Đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc;
- Hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.
Trong đó:
Thứ nhất: Hành vi dùng vũ lực là hành vi dùng sức mạnh thể chất hoặc vật chất (có hoặc không sử dụng công cụ, phương tiện) tác động đến thân thể của người bị tấn công như đấm, đá, chém… Người bị tấn công có thể là:
- Chủ sở hữu;
- Người có trách nhiệm quản lý tài sản;
- Hoặc người khác mà người phạm tội cho rằng họ đã hoặc có khả năng ngăn cản việc chiếm đoạt tài sản của mình.
Hành vi dùng vũ lực có thể gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe của người bị tấn công. Việc dùng vũ lực có thể công khai, cũng có thể là bí mật, lén lút.
Thứ hai: Hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc, đó là hành vi đe dọa dùng ngay lập tức sức mạnh thể chất hoặc vật chất đối với người bị tấn công nếu người bị tấn công ngăn cản việc chiếm đoạt. Hành vi đe dọa này nhằm:
- Làm cho người bị tấn công tin và lo sợ việc nguy hại cận kề ngay đến tính mạng, sức khoẻ nếu kháng cự;
- Hoàn toàn bị tê liệt ý chí phản kháng.
Hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc trong thực tế có thể là: Lời nói, cử chỉ hoặc có thể là sự kết hợp đồng thời giữa thái độ, cử chỉ và lời nói.
Thứ ba: Hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được là những hành vi như:
- Cho nạn nhân uống thuốc ngủ;
- Sử dụng thuốc mê;
- Cho nạn nhân uống rượu để họ ngủ, say nhằm chiếm đoạt tài sản.
Người bị tấn công không nhận thức được sự việc đang xảy ra hoặc có thể biết sự việc xảy ra nhưng bị tê liệt tinh thần, tê liệt sức kháng cự nên không thể thực hiện được hành vi chống trả việc chiếm đoạt tài sản của người phạm tội.
2.3. Chủ thể:
Người phạm tội cướp tài sản phải là người đủ từ 14 tuổi trở lên và khi thực hiện hành vi phạm tội không mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Cụ thể, Theo Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015:
- Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm;
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
2.4. Mặt chủ quan:
Tội cướp được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó là tài sản của người khác chiếm đoạt và mong muốn chiếm đoạt tài sản đó.
Mục đích của hành vi là chiếm đoạt tài sản. Mục đích là yếu tố bắt buộc của cấu thành Tội cướp tài sản. Nếu thực hiện một trong các hành vi dùng bạo lực hoặc đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhưng không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản thì không phạm tội cướp tài sản.
3. Khung hình phạt của Tội cướp tài sản:
Điều 168 Bộ luật Hình sự về Tội cướp tài sản quy định 04 khung hình phạt chính và 01 khung hình phạt bổ sung như sau:
- Khung 1: Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
- Khung 2: Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
- Khung 3: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
- Khung 4: Phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
- Người chuẩn bị phạm tội: Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
- Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
4. Các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng của Tội cướp tài sản:
Tình tiết định khung hình phạt tăng nặng của Tội cướp tài sản được quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015 như sau:
4.1. Tình tiết định khung hình phạt tăng nặng theo khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015:
- Có tổ chức theo điểm a khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015:
Tình tiết “có tổ chức” thể hiện sự câu kết chặt chẽ, có phân công vai trò, nhiệm vụ cụ thể giữa các đối tượng phạm tội để cùng thực hiện hành vi cướp tài sản. Đây không đơn thuần là hành vi đồng phạm mà còn là hành vi phạm tội mang tính chất có kế hoạch, có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về phương tiện, thủ đoạn và thời điểm thực hiện. Phạm tội có tổ chức thường gây ra hậu quả nghiêm trọng hơn và khó bị phát hiện và ngăn chặn, do đó đây được xem là tình tiết tăng nặng hình phạt.
- Có tính chất chuyên nghiệp theo điểm b khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015:
Tình tiết “có tính chất chuyên nghiệp” được hiểu là người phạm tội coi việc cướp tài sản là nghề để sống, thực hiện nhiều lần liên tục trong một thời gian dài hoặc sống chủ yếu bằng nguồn thu bất hợp pháp từ hành vi cướp tài sản. Đây là biểu hiện của sự nguy hiểm cao độ cho thấy đối tượng phạm tội không còn khả năng cải tạo dễ dàng, có xu hướng tiếp tục gây hại cho xã hội nên cần xử lý nghiêm khắc để răn đe và phòng ngừa.
- Dùng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác theo điểm c khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015:
Việc sử dụng vũ khí (dao, súng, bom, mìn…), phương tiện nguy hiểm (xe máy để gây tai nạn, hung khí…) hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác như tạt axit, giả danh lực lượng chức năng nhằm uy hiếp nạn nhân là hành vi có mức độ nguy hiểm rất cao. Những thủ đoạn này làm gia tăng khả năng gây thương tích, thậm chí đe dọa đến tính mạng người bị hại, đồng thời gây hoang mang trong cộng đồng. Vì vậy pháp luật xem đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Đối với người dưới 16 tuổi theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015:
Hành vi cướp tài sản đối với những người đặc biệt dễ bị tổn thương như trẻ em, phụ nữ có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ (người khuyết tật, bệnh tật…) là hành vi đặc biệt nghiêm trọng, thể hiện sự vô nhân đạo và tận dụng sự yếu thế của nạn nhân để dễ dàng thực hiện tội phạm. Do đó pháp luật cần tăng mức hình phạt để bảo vệ các nhóm đối tượng yếu thế này trong xã hội.
- Đối với 02 người trở lên theo điểm đ khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015:
Tình tiết này xác định mức tăng nặng khi hành vi cướp tài sản không chỉ xâm hại đến một cá nhân mà còn gây hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe cho từ hai người trở lên. Đây là dấu hiệu mở rộng về số lượng nạn nhân bị tổn hại, thể hiện mức độ nguy hiểm tăng cao của hành vi phạm tội cả về hậu quả vật chất lẫn phạm vi tác động xã hội.
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng theo điểm e khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015:
Giá trị tài sản bị chiếm đoạt là một trong những căn cứ quan trọng để xác định tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Khi số tiền bị chiếm đoạt từ 50 triệu đến dưới 200 triệu đồng, mức độ thiệt hại đã vượt quá ngưỡng cơ bản của xã hội về tổn thất tài sản, ảnh hưởng lớn đến đời sống của nạn nhân. Đây là biểu hiện của tính nguy hiểm cao hơn so với tội phạm thông thường.
- Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% theo điểm g khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015:
Tình tiết này áp dụng khi hành vi cướp tài sản có kèm theo hành vi sử dụng vũ lực dẫn đến hậu quả gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho nạn nhân với tỷ lệ tổn thương từ 11% đến dưới 31%. Đây là mức độ xâm hại thể hiện sự tàn nhẫn, coi thường tính mạng và sức khỏe con người của người phạm tội. Hành vi này không chỉ xâm phạm đến tài sản mà còn trực tiếp xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể.
- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo điểm h khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015:
Trường hợp hành vi cướp tài sản làm gia tăng sự bất ổn trong cộng đồng dân cư, gây hoang mang, lo lắng cho nhân dân, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương thì được coi là tình tiết tăng nặng. Điều này cho thấy hành vi phạm tội không chỉ có tính cá nhân mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội rộng lớn, cần xử lý nghiêm khắc hơn để đảm bảo ổn định trật tự xã hội.
- Tái phạm nguy hiểm theo điểm i khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015:
Khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự 2015 quy định những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:
+ Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;
+ Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.
4.2. Tình tiết định khung hình phạt tăng nặng theo khoản 3 Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng theo điểm a khoản 3 Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015:
Trong trường hợp giá trị tài sản chiếm đoạt ở mức cao hơn (từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng), hành vi phạm tội gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế cho cá nhân hoặc tổ chức. Đây là tình tiết thể hiện tính chất nghiêm trọng về hậu quả tài sản nên cần bị xử lý trong khung hình phạt cao hơn để đảm bảo tính răn đe.
- Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% theo điểm b khoản 3 Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015:
Việc gây thương tích với tỷ lệ tổn hại sức khỏe từ 31% đến 60% cho thấy mức độ bạo lực đã nghiêm trọng hơn, gây nguy hiểm đến tính mạng của nạn nhân. Hành vi này kết hợp giữa xâm phạm sức khỏe và chiếm đoạt tài sản, từ đólàm tăng mức độ nguy hiểm, đòi hỏi pháp luật phải áp dụng khung hình phạt nặng ở mức hơn.
4.3. Tình tiết định khung hình phạt tăng nặng theo khoản 4 Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên theo điểm a khoản 4 Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015:
Khi giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 500 triệu đồng trở lên, hậu quả tài sản là cực kỳ nghiêm trọng. Đây là mức thiệt hại lớn, thường liên quan đến các vụ án lớn, có tổ chức hoặc dùng thủ đoạn tinh vi. Pháp luật quy định mức hình phạt từ 18 đến 20 năm hoặc tù chung thân là phù hợp với mức độ nguy hiểm và hậu quả thực tế gây ra.
- Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên theo điểm b khoản 4 Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015:
Đây là tình tiết định khung tăng nặng áp dụng khi hành vi cướp tài sản kèm theo việc gây thương tích hoặc tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe hoặc tâm thần của nạn nhân, khiến tỷ lệ tổn thương cơ thể đạt từ 61% trở lên. Hành vi này cho thấy mức độ bạo lực cực đoan, coi thường tính mạng và sức khỏe con người ở mức cao nhất. Ngoài việc chiếm đoạt tài sản, người phạm tội đã trực tiếp gây ra hậu quả rất nghiêm trọng cho nạn nhân, có thể khiến họ mất khả năng lao động, sống thực vật hoặc tổn thương vĩnh viễn về tâm thần và hành vi.
Việc xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể ở mức độ nặng như vậy khiến hành vi này thuộc khung hình phạt cao nhất (từ 18 năm đến 20 năm tù hoặc tù chung thân). Mức hình phạt tương ứng phản ánh đúng tính chất đặc biệt nguy hiểm của hành vi này đối với xã hội, không chỉ vi phạm quyền sở hữu mà còn đe dọa nghiêm trọng đến sự an toàn thân thể và nhân phẩm con người.
- Làm chết người theo điểm c khoản 4 Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015:
Đây là tình tiết đặc biệt nghiêm trọng, khi hành vi cướp tài sản dẫn đến cái chết của nạn nhân. Việc xâm phạm đến tính mạng con người cho thấy mức độ nghiêm trọng nhất trong các hành vi phạm tội. Mức hình phạt có thể lên đến tù chung thân là cần thiết để đáp ứng yêu cầu công lý và bảo vệ xã hội.
- Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp theo điểm d khoản 4 Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015:
Người phạm tội lợi dụng sự rối loạn, thiếu kiểm soát trong bối cảnh chiến tranh hoặc tình trạng khẩn cấp để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Đây được coi là hành vi có tính chất đặc biệt nguy hiểm, không chỉ xâm phạm tài sản, tính mạng, sức khỏe cá nhân mà còn gây thêm khó khăn cho Nhà nước và xã hội trong bối cảnh khủng hoảng. Do đó, pháp luật quy định đây là tình tiết định khung tăng nặng ở mức cao nhất của tội cướp tài sản với khung hình phạt từ 18 năm đến 20 năm tù hoặc tù chung thân (khoản 4 Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015).
5. Phân biệt Tội cướp tài sản và các tội danh khác có liên quan:
5.1. Phân biệt Tội cướp tài sản và Tội cướp giật tài sản:
Tiêu chí |
Tội cướp tài sản (Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015) |
Tội cướp giật tài sản (Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015) |
Khái niệm hành vi | Người phạm tội dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc thủ đoạn khác làm nạn nhân không thể chống cự để chiếm đoạt tài sản. | Người phạm tội nhanh chóng chiếm đoạt tài sản công khai từ tay, túi, hoặc sự quản lý trực tiếp của người khác, rồi bỏ chạy. |
Tính chất bạo lực | Có hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa vũ lực ngay tức khắc trước, trong hoặc sau khi chiếm đoạt. | Chủ yếu giật nhanh tài sản; bạo lực chỉ phát sinh nếu có hành hung để tẩu thoát. |
Khách thể bị xâm hại | Quyền sở hữu tài sản và đồng thời tính mạng, sức khỏe và sự an toàn của con người. | Chủ yếu xâm phạm quyền sở hữu tài sản, nhưng trong trường hợp hành hung để tẩu thoát thì cũng có thể xâm phạm sức khỏe, tính mạng. |
Mức độ nguy hiểm | Nguy hiểm cao hơn vì xâm phạm đồng thời tài sản và trực tiếp đe dọa đến tính mạng, sức khỏe nạn nhân. | Nguy hiểm thấp hơn cướp tài sản vì thường chỉ diễn ra trong chớp nhoáng, ít khi kèm đe dọa trực tiếp đến tính mạng trước hành vi chiếm đoạt. |
Khung hình phạt |
Khung 1: Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm. Khung 2: Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Khung 3: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm. Khung 4: Phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. |
Khung 1: Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Khung 2: Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm. Khung 3: Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Khung 4: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. |
Hình phạt bổ sung |
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. |
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. |
5.2. Phân biệt Tội cướp tài sản và Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản:
Tiêu chí |
Tội cướp tài sản (Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015) |
Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172 Bộ luật Hình sự 2015) |
Khái niệm hành vi | Người phạm tội dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc thủ đoạn khác làm nạn nhân không thể chống cự để chiếm đoạt tài sản. | Người phạm tội công khai chiếm đoạt tài sản trước sự chứng kiến của chủ tài sản hoặc người khác, mà không dùng thủ đoạn che giấu, lén lút, bạo lực hay đe dọa ngay tức khắc. |
Tính chất hành vi | Mang tính bạo lực, đe dọa bạo lực, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe và tài sản. | Mang tính công khai, trắng trợn, coi thường pháp luật, xâm phạm chủ yếu đến quyền sở hữu tài sản, ít nguy hiểm đến tính mạng và sức khỏe nạn nhân. |
Mức độ nguy hiểm cho xã hội | Rất cao vì đồng thời xâm phạm đến quyền sở hữu và an toàn tính mạng, sức khỏe con người. | Thấp hơn cướp tài sản vì hành vi không dùng bạo lực ngay tức khắc, nhưng gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, kỷ cương xã hội. |
Giá trị tài sản tối thiểu để truy cứu | Không yêu cầu giá trị tối thiểu (chỉ cần có hành vi cướp tài sản là bị truy cứu). | Từ 2.000.000 đồng trở lên, hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc các trường hợp đặc biệt (tái phạm, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, tài sản là phương tiện kiếm sống chính…). |
Khung hình phạt |
Khung 1: Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Khung 2: Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm. Khung 3: Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Khung 4: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. |
Khung 1: Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Khung 2: Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Khung 3: Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Khung 4: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm |
Trách nhiệm hình sự với hành vi chuẩn bị | Có (01 đến 05 năm tù). | Không quy định trách nhiệm hình sự ở giai đoạn chuẩn bị. |
Hình phạt bổ sung | Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. | Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. |
5.3. Phân biệt Tội cướp tài sản và Tội trộm cắp tài sản:
Tiêu chí |
Tội trộm cắp tài sản (Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015) |
Tội cướp tài sản (Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015) |
Khái niệm hành vi | Người phạm tội lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. | Người phạm tội dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc thủ đoạn khác làm nạn nhân không thể chống cự để chiếm đoạt tài sản. |
Đặc trưng hành vi | Mang tính lén lút, bí mật, không để chủ sở hữu hoặc người quản lý biết tại thời điểm chiếm đoạt. | Mang tính bạo lực, công khai, trực tiếp đe dọa đến tính mạng, sức khỏe nạn nhân tại thời điểm chiếm đoạt. |
Khách thể bị xâm hại | Chủ yếu là quyền sở hữu tài sản. | Xâm phạm quyền sở hữu tài sản đồng thời xâm phạm tính mạng, sức khỏe và sự an toàn thân thể của con người. |
Giá trị tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự | Từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng có tình tiết đặc biệt (tái phạm, gây ảnh hưởng xấu, tài sản là phương tiện sống chính, di vật/cổ vật). | Không yêu cầu giá trị tối thiểu – chỉ cần có hành vi cướp là đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự. |
Khung hình phạt |
Khung 1: Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Khung 2: Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Khung 3: Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Khung 4: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm. |
Khung 1: Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Khung 2: Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm. Khung 3: Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Khung 4: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. |
Chuẩn bị phạm tội | Không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu chỉ mới dừng ở giai đoạn chuẩn bị. | Có, bị phạt 01 đến 05 năm tù. |
Hình phạt bổ sung | Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. | Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. |
6. Các trường hợp chuyển hoá tội phạm thành Tội cướp tài sản:
Trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội ban đầu không có ý định cướp tài sản nhưng sau đó đã sử dụng vũ lực/đe doạ sử dụng vũ lực để tẩu thoát khi bị phát hiện. Vì thế, có nhiều tội danh bị chuyển hoá thành Tội cướp tài sản dựa trên tình tiết “hành hung để tẩu thoát”. Tình tiết này được quy định tại các tội danh sau:
- Điểm đ khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015: Tội cướp giật tài sản;
- Điểm b khoản 2 Điều 172 Bộ luật Hình sự 2015: Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản;
- Điểm đ khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015: Tội trộm cắp tài sản.
Mục 6.1 và 6.2 Thông tư liên tịch số 02/2001/TLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP (đã hết hiệu lực nhưng vẫn có giá trị tham khảo) có hướng dẫn cụ thể về tình tiết định khung hình phạt tăng nặng “hành hung để tẩu thoát” và trường hợp chuyển hoá thành Tội cướp tài sản. Cụ thể như sau:
- Hành hung để tẩu thoát là trường hợp mà người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng bị phát hiện và bị bắt giữ hoặc bị bao vây bắt giữ thì đã có những hành vi chống trả lại người bắt giữ hoặc người bao vây bắt giữ như đánh, chém, bắn, xô ngã… nhằm tẩu thoát;
- Nếu người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng đã bị người bị hại hoặc người khác giành lại, mà người phạm tội tiếp tục dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc tấn công người bị hại hoặc người khác nhằm chiếm đoạt cho được tài sản, thì trường hợp này không phải là “hành hung để tẩu thoát” mà đã có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội cướp tài sản.
Có thể kể đến các trường hợp chuyển hoá tội phạm liên quan đến Tội cướp tài sản như sau:
a. “Trộm tài sản” chuyển hóa thành “Cướp tài sản”:
Người đang thực hiện hành lén lút trộm cắp tài sản nhưng chưa lấy được tài sản (hoặc đã lấy được tài sản nhưng chưa thể tẩu thoát) thì bị phát hiện, và đã có hành vi dùng vũ lực đối với nạn nhân nhằm lấy bằng được tài sản đó.
b. “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” chuyển hóa thành “Cướp tài sản”:
Ban đầu người phạm tội lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, hoặc lợi dụng hoàn cảnh khách quan như thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, chiến tranh để chiếm đoạt tài sản một cách công khai. Sau đó có hành vi dùng vũ lực đối với nạn nhân để chiếm đoạt tài sản đó.
c. “Cướp giật tài sản” chuyển hóa thành “Cướp tài sản”:
Người phạm tội đang thực hiện hành vi cướp giật tài sản thì bị phát hiện và đã dùng vũ lực tấn công nạn nhân nhằm mục đích chiếm đoạt bằng được tài sản đó.
7. Bản án điển hình về Tội cướp tài sản:
Bản án số 16/2022/HS-ST ngày 28/04/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội.
Đêm ngày 30 tháng 4 rạng sáng ngày 01 tháng 5 năm 2021, tại nhà của Kiều Như Th1 thuộc thôn 2, xã P, huyện Ph, thành phố Hà Nội, do mâu thuẫn trong việc đánh bạc, Lê Bá H và Lê Quang Th có hành vi dùng vũ lực (chân tay) đánh anh Đoàn Văn T1. H túm cổ anh T1 và cầm vào sợi dây chuyền anh T1 đeo trên cổ (anh T1 cởi trần).
Anh T1 vùng chạy, H đã dùng tay nắm lấy sợi dây chuyền là hợp kim của vàng, đồng, kẽm, bạc, trị giá 36.700.000 đồng của anh T1 đang đeo trên cổ, khiến sợi dây chuyền bị đứt và H cầm trong tay. Anh T1 đòi H trả lại sợi dây chuyền nhưng H không trả mà đưa cho Lê Quang Th.
Th biết sợi dây chuyền H đưa là của anh T1 và biết anh T1 đòi nhưng H không trả nhưng vẫn cầm và cất vào ví của mình. Sau đó H và Th tiếp tục đuổi đánh anh T1 khiến anh T1 phải bỏ chạy ra ngoài.
Mặc dù Lê Bá H không có mục đích chiếm đoạt dây chuyền của anh T1 từ trước, nhưng trong lúc H đánh anh T1 đã giật đứt dây chuyền của anh T1. Anh T1 đòi lại thì H cố tình không trả mà đưa sợi dây chuyền cho Lê Quang Th cất giữ. Th biết sợi dây chuyền H đưa là của anh T1 và biết anh T1 đòi nhưng H không trả nhưng vẫn cầm và cất vào ví của mình. Sau đó H và Th còn tiếp tục có hành vi dùng vũ lực đánh anh T1 khiến anh T1 phải bỏ chạy.
Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự và các văn bản hướng dẫn, hành vi đó của Lê Bá H và Lê Quang Th đã cấu thành tội Cướp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ truy tố các bị cáo về tội danh trên là có căn cứ.
- Quyết định của Tòa án:
+ Lê Bá H 03 (ba) năm tù về tội Cướp tài sản.
+ Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/5/2021.
THAM KHẢO THÊM: