Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Điều 175 BLHS

1. Khái quát chung về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:

1.1. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là gì?

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác bằng thủ đoạn lạm dụng lòng tin của người khác để chiếm đoạt tài sản.

Tội danh này được xác định là hành vi của một người dựa trên sự tin tưởng, tín nhiệm của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, hợp pháp nhận được tài sản đó thông qua các giao dịch như vay, mượn, thuê, nhận giữ hộ, nhận theo hợp đồng… nhưng sau đó cố ý chiếm đoạt bằng cách sử dụng vào mục đích bất hợp pháp, không trả lại, bỏ trốn hoặc từ chối trả mà không có lý do chính đáng.

Điểm đặc trưng của Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là:

  • Có được tài sản hợp pháp (chủ sở hữu tự nguyện giao);
  • Sau đó người phạm tội đã lợi dụng sự tin tưởng để biến việc chiếm hữu hợp pháp thành hành vi chiếm đoạt.

Đây chính là sự khác biệt căn bản so với trộm cắp (lén lút chiếm đoạt ngay từ đầu) hay lừa đảo chiếm đoạt tài sản (dùng thủ đoạn gian dối ngay từ khi giao tài sản).

1.2. Ý nghĩa của chế định Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự:

  • Thứ nhất, bảo vệ quyền sở hữu và quan hệ tín dụng, giao dịch dân sự. Trong đời sống xã hội, các quan hệ vay mượn, thuê mướn, gửi giữ… diễn ra rất phổ biến và dựa trên nền tảng sự tin tưởng lẫn nhau. Nếu sự tín nhiệm bị lợi dụng để chiếm đoạt thì các quan hệ dân sự – kinh tế sẽ bị lung lay và niềm tin giữa các chủ thể dễ bị phá vỡ. Do đó, pháp luật quy định tội danh này nhằm bảo vệ quyền sở hữu tài sản và sự an toàn trong các giao dịch hợp pháp. 
  • Thứ hai, đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa hành vi lợi dụng lòng tin để chiếm đoạt. Khác với hành vi chiếm đoạt công khai hoặc bạo lực, hành vi trong tội này thường tinh vi, khó phát hiện vì được che giấu dưới hình thức hợp pháp ban đầu. Xử lý nghiêm khắc tội danh này có ý nghĩa răn đe, phòng ngừa và ngăn chặn việc biến các giao dịch dân sự – kinh tế thành công cụ để chiếm đoạt tài sản. 
  • Thứ ba, bảo đảm sự công bằng và kỷ cương xã hội. Việc quy định tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thể hiện nguyên tắc mọi hành vi chiếm đoạt tài sản đều bị xử lý dù che giấu dưới bất kỳ hình thức nào. Qua đó, pháp luật khẳng định sự công bằng, nghiêm minh, bảo vệ lợi ích chính đáng của người dân, doanh nghiệp và tạo niềm tin vào hệ thống pháp luật. 
  • Thứ tư, góp phần hỗ trợ sự phát triển kinh tế – xã hội. Một nền kinh tế thị trường chỉ vận hành hiệu quả khi các quan hệ hợp đồng, tín dụng và các giao dịch vay mượn được bảo đảm. Xử lý nghiêm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản giúp củng cố an toàn pháp lý cho các giao dịch, khuyến khích các chủ thể yên tâm tham gia vào các hoạt động dân sự, thương mại, góp phần ổn định và phát triển kinh tế – xã hội.

1.3. Cơ sở pháp lý của Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 như sau:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

2. Cấu thành tội phạm của Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:

2.1. Khách thể:

Theo Điều 158 Bộ luật Dân sự 2015: Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật.

Khách thể của Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xâm phạm trực tiếp đến: Quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân.

2.1. Mặt khách quan:

Mặt khách quan của Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thể hiện ở hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tức là người phạm tội có được tài sản do người quản lý tài sản giao cho bằng các hình thức hợp pháp sau đó đã lạm dụng lòng tin chiếm đoạt luôn tài sản đó. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được thể hiện qua các dạng hành vi sau:

  • Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng. Sau đó dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đó;
  • Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng. Sau đó bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;
  • Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng, tuy nhiên đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có đầy đủ điều kiện và khả năng để trả nhưng cố tình không trả;
  • Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng. Sau đó sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản cho chủ sở hữu.

Đồng thời, người thực hiện một trong những hành vi trên sẽ cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sảntheo Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 khi đáp ứng được một trong những điều kiện đủ sau đây:

  • Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá 4.000.000 đồng trở lên;
  • Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản;
  • Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc thuộc về một trong các tội quy định tại các Điều 168,169, 170, 171, 172, 173 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
  • Hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá dưới 4.000.000 đồng nhưng tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình của họ.

2.3. Mặt chủ quan:

Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.

Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó và mong muốn chiếm đoạt được tài sản.

2.4. Chủ thể:

Chủ thể của tội phạm là người đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự theo Điều 21 Bộ luật Hình sự 2015.

3. Khung hình phạt của Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 quy định những khung hình phạt như sau:

  • Khung 1: Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
  • Khung 2: Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
  • Khung 3: Phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.
  • Khung 4: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
  • Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

4. Các tình tiết định khung tăng nặng của Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:

Các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng của Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 của Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015. Cụ thể như sau:

4.1. Các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng theo khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015:

  • Có tổ chức theo điểm a khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015:

Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản khi có tổ chức thể hiện sự phối hợp giữa nhiều người trong việc thực hiện tội phạm. Tình tiết này làm tăng mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội vì việc có tổ chức cho thấy sự chuẩn bị kỹ lưỡng và tính chuyên nghiệp trong việc chiếm đoạt tài sản. Người phạm tội có tổ chức có thể thực hiện hành vi một cách có hệ thống và lừa dối nhiều người, gây hậu quả lớn hơn so với các trường hợp thông thường khác. Do đó mức hình phạt có thể từ 02 năm đến 07 năm tù.

  • Có tính chất chuyên nghiệp theo điểm b khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015:

Tội phạm lạm dụng tín nhiệm có tính chất chuyên nghiệp có nghĩa là người phạm tội thực hiện hành vi này nhiều lần hoặc với mục đích sinh lợi. Người có tính chuyên nghiệp thường có phương thức, thủ đoạn rõ ràng và sử dụng kiến thức, kỹ năng để lừa đảo hoặc chiếm đoạt tài sản một cách có hệ thống. Do đó pháp luật áp dụng khung hình phạt nghiêm khắc hơn từ 02 năm đến 07 năm tù để răn đe những đối tượng phạm tội có tính chuyên nghiệp.

  • Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng theo điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015:

Tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng gây ra thiệt hại lớn hơn cho chủ sở hữu. Việc chiếm đoạt tài sản có giá trị cao thể hiện mức độ nghiêm trọng của hành vi và ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị hại. Pháp luật quy định mức hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù đối với hành vi chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn để phản ánh tính chất nghiêm trọng của tội phạm và mức độ tổn thất do hành vi này gây ra.

  • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức theo điểm d khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015:

Tình tiết này áp dụng cho trường hợp người phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc danh nghĩa cơ quan, tổ chức để chiếm đoạt tài sản. Người phạm tội lợi dụng sự tín nhiệm và quyền lực của mình trong công việc để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, từ đó gây ra hậu quả nghiêm trọng. Hành vi này không chỉ vi phạm quyền sở hữu tài sản mà còn làm suy yếu niềm tin của xã hội vào các cơ quan và tổ chức. Vì vậy, pháp luật quy định mức phạt từ 02 năm đến 07 năm tù để xử lý tình tiết này.

  • Dùng thủ đoạn xảo quyệt theo điểm đ khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015:

Khi người phạm tội sử dụng thủ đoạn xảo quyệt như gian dối, lừa đảo, hoặc thủ đoạn lừa gạt tinh vi để chiếm đoạt tài sản, hành vi phạm tội trở nên khó phát hiện và khó xử lý. Tình tiết này làm tăng mức độ nguy hiểm của hành vi chiếm đoạt tài sản vì người phạm tội không chỉ dựa vào sự sơ hở mà còn lợi dụng sự thiếu hiểu biết của nạn nhân hoặc sự tin tưởng quá mức. Mức hình phạt đối với hành vi này có thể từ 02 năm đến 07 năm tù nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân và củng cố công lý.

  • Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo điểm e khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015:

Tình tiết gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội thể hiện mức độ nghiêm trọng của hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Hành vi phạm tội không chỉ gây thiệt hại cho người bị hại mà còn gây ra sự lo lắng, bất an trong cộng đồng, từ đps làm mất niềm tin vào hệ thống pháp luật. Vì vậy để bảo vệ sự ổn định xã hội và giữ gìn trật tự công cộng, pháp luật quy định mức phạt từ 02 năm đến 07 năm tù đối với trường hợp này.

  • Tái phạm nguy hiểm theo điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015:

Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

+ Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

+ Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.

4.2. Các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng theo khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015:

Khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 quy định tình tiết định khung hình phạt tăng nặng như sau: Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

Giá trị tài sản chiếm đoạt từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng không chỉ gây tổn thất nặng nề cho chủ sở hữu mà còn ảnh hưởng lớn đến trật tự kinh tế xã hội. Pháp luật áp dụng mức phạt từ 05 năm đến 12 năm tù để thể hiện tính chất nghiêm trọng của hành vi và hậu quả tài chính lớn mà người phạm tội gây ra.

4.3. Các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015:

Khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 quy định tình tiết định khung hình phạt tăng nặng như sau: Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên.

Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên là mức độ thiệt hại rất lớn và tác động nghiêm trọng đến nạn nhân. Đây là hành vi đặc biệt nghiêm trọng, thể hiện sự quyết liệt và phạm tội với quy mô lớn. Pháp luật quy định mức phạt cao nhất từ 12 năm đến 20 năm tù để phản ánh mức độ nghiêm trọng của hành vi và tác hại đối với chủ sở hữu tài sản và xã hội.

5. Phân biệt với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

5.1. Điểm giống nhau:

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có những điểm tương đồng như sau:

  • Đều xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu đối với tài sản;
  • Đều được thực hiện bằng phương pháp hành động, đều thể hiện ở hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đều dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản;
  • Về thời điểm tội phạm hoàn thành: Cả 02 tội danh đều được coi là hoàn thành từ khi chiếm đoạt được tài sản;
  • Đều có hình thức lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội đều thấy trước hành vi lừa đảo hoặc hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là nguy hiểm cho xã hội, hành vi ấy đều gây thiệt hại cho quyền sở hữu của chủ tài sản, tuy nhiên người phạm tội đều mong muốn chiếm đoạt được tài sản của người khác với mục đích vụ lợi;
  • Chủ thể đều là bất kỳ người nào đủ độ tuổi và đủ năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 21 Bộ luật Hình sự 2015).

5.2. Điểm khác nhau:

Tiêu chí

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

(Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015)

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

(Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015)

Khái niệm Người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối để làm cho chủ sở hữu tin tưởng và trao tài sản cho mình, sau đó chiếm đoạt tài sản. Người phạm tội nhận tài sản hợp pháp từ chủ sở hữu (vay, mượn, thuê, hợp đồng) và sau đó lợi dụng sự tin tưởng để chiếm đoạt tài sản một cách gian dối.
Giá trị tài sản bị chiếm đoạt Từ 2.000.000 đồng trở lên. Từ 4.000.000 đồng trở lên.
Thủ đoạn chiếm đoạt tài sản Dùng thủ đoạn gian dối để tạo lòng tin và nhận tài sản từ người bị hại (lừa đảo trước khi nhận tài sản). Không gian dối khi nhận tài sản, nhưng sau khi nhận tài sản hợp pháp, người phạm tội bội tín và chiếm đoạt tài sản (gian dối xảy ra sau khi nhận tài sản).
Mục đích chiếm đoạt Thủ đoạn gian dối ngay từ đầu là phương tiện chủ yếu để chiếm đoạt tài sản. Lợi dụng lòng tin của người bị hại sau khi tài sản đã được giao hợp pháp.
Hình phạt

Khung 1: Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Khung 2: Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Khung 3: Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

Khung 4: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Khung 1: Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Khung 2: Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Khung 3: Phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.

Khung 4: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Phạm vi hành vi Được thực hiện trước khi nhận tài sản, bằng cách sử dụng thủ đoạn gian dối để khiến nạn nhân giao tài sản. Thực hiện hành vi gian dối sau khi nhận tài sản hợp pháp, nhằm chiếm đoạt tài sản đã được giao theo hợp đồng.
Điều kiện truy cứu trách nhiệm Phải có thủ đoạn gian dối trước khi chiếm đoạt tài sản. Phải có hành vi gian dối sau khi đã nhận tài sản hợp pháp từ chủ sở hữu.
Chủ thể của tội Bất kỳ ai đủ năng lực trách nhiệm hình sự và có ý định gian dối để chiếm đoạt tài sản. Bất kỳ ai đủ năng lực trách nhiệm hình sự và có ý định lạm dụng lòng tin của chủ sở hữu tài sản để chiếm đoạt.

6. Bản án điển hình của Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:

Bản án số 02/2024/HS-PT ngày 30/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.

Bị cáo Võ Minh T là người có năng lực trách nhiệm hình sự, được Công ty cổ phần TT ký kết hợp đồng là nhân viên lái xe giao hàng và thu tiền hàng từ các khách hàng từ ngày 01/8/2020. Lợi dụng sự tin tưởng của Công ty, ngày 04/12/2021 sau khi đi giao hàng và thu được 253.942.629 đồng tiền hàng từ các khách hàng, bị cáo Võ Minh T chỉ giao nộp lại Công ty 119.517.098 đồng (Nộp cho bà Hoàng Thị H2 – Giám đốc Công ty).

Số tiền còn lại 134.425.531 đồng bị cáo T không giao nộp lại mà chỉ thông báo nợ lại Công ty, thông qua bà Hoàng Thị H2 là Giám đốc Công ty và sau đó bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết. hi Công ty yêu cầu T nộp lại, do không có tiền nộp trả Công ty, bị cáo Võ Minh T đã bỏ việc và bỏ trốn nhằm chiếm đoạt số tiền nợ của Công ty.

Ngoài ra, Trước ngày 04/12/2021 bị cáo Võ Minh T còn nợ Công ty số tiền 7.883.085 đồng là số tiền mà bị cáo đã thu của khách hàng khi thực hiện nhiệm vụ nhưng bị cáo chưa nộp vào Công ty và được Công ty cho bị cáo nợ.

Vì vậy bị cáo Võ Minh T bị Tòa án nhân dân thành phố LC xét xử về tội về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và xử phạt 03 năm 03 tháng tù theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

  • Quyết định của Tòa án:

+ Tuyên bố bị cáo Võ Minh T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

+ Xử phạt bị cáo Võ Minh T 03 năm 03 tháng tù.

+ Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giữ ngày 12/7/2023.

THAM KHẢO THÊM:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chat Zalo

0938669199